Vài ý kiến đóng góp với bản dịch “Việt Nam khai quốc” (kỳ 2)

Vài ý kiến đóng góp với bản dịch “Việt Nam khai quốc” (kỳ 2)

VÀI Ý KIẾN ĐÓNG GÓP VỚI BẢN DỊCH “Việt Nam khai quốc” (KỲ 2)

Việt nam khai quốc

Tác giả: Bùi Xuân Bách

 Xem VÀI Ý KIẾN ĐÓNG GÓP VỚI BẢN DỊCH “Việt Nam khai quốc” (Kỳ 1)

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 1 (sách trang 132-143)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Tinh ThiệuChing Shao井韶(/紹)Jǐng SháoTỉnh Thiều/Thiệu
2Tôn ChungSun Ch’iung孫冏Sūn JiǒngTôn Quynh
3Trần Văn GiỏiCh’en Wen-chieh陳文戒Chén WénjièTrần Văn giới
4Giám quanChien chün監軍Jiān jūnGiám quân
5Nan YuehNan Yüeh南越Nán YuèNam Việt
6AmitabhaA-mi-to Fo阿彌陀佛Āmítuó FóA-di-đà Phật(Phật A-di-đà)
7Lao (man di)LaoLǎoLão
8hồ Điển TriếtTien-cheh典澈Diǎnchèhồ Điển Triệt
9sơn lam chướng khísửa: lam sơn chướng khí

Chú giải

1- Tác giả (K. W. Taylor) cho ta cả hai chữ Hán 韶/紹 trong cái tên này. Có lẽ ông gặp trong hai cuốn sách khác nhau. Hai chữ này đọc trong tiếng Hán thì đồng âm sháo, nhưng trong tiếng Việt thì lại đọc khác nhau là Thiều và Thiệu. Vậy ta dùng chữ Thiệu cũng đúng nhưng chữ Ching (井) thì phải đọc là Tỉnh.

2- Chữ 冏 theo Khang Hy tự điển đọc là Quynh, còn theo Từ Hải đọc là Cảnh.

5- Có lẽ do sơ ý, dịch giả vẫn để nguyên Nan Yueh trong bản tiếng Việt (Nan Yüeh).

6- Trong bản tiếng Anh viết là A-mi-to Fo, không hiểu sao dịch giả không dùng A-di-đà

Phật trong bản tiếng Việt mà lại dùng Phạn ngữ (Amitābha).

7- Chữ 獠 có hai cách đọc trong tiếng Hán: Lǎo và Liáo, âm Hán Việt tương đương là Lão và Liêu. Liêu thì có nghĩa là đi săn đêm, hoặc là kẻ hung ác, tàn bạo. Lão là tên một bộ tộc cổ ở Trung Quốc, phân bố tại vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu ngày nay. Còn dùng với nghĩa phiếm chỉ, nói chung các dân tộc thiểu số phương Nam. Tương tự như chữ Man trong Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch, Nam Man, những từ miệt

thị để chỉ các dân tộc không phải Hán. Trường hợp này ta phải đọc là Lão.

9- “Lam sơn chướng khí” rõ ràng là thành ngữ gốc Hán vì ta thấy các từ cấu thành là từ Hán Việt và trật tự từ trong thành ngữ cũng vẫn là trật tự từ Hán, nghĩa là tính từ đứng trước danh từ (khác với trật tự từ Việt là danh từ đứng trước tính từ). Có lẽ, do mượn đã lâu, người Việt đã quen dùng và vẫn giữ nguyên trật tự từ cũ. Nay nếu ta đổi lại là “sơn lam chướng khí” (danh-tính-tính-danh) thì hóa ra lại “đầu gà đít vịt”.

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 2 (sách trang 144-151)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Nguyễn Cảnh TrọngYüan Ching-chung元景仲Yuán JǐngzhòngNguyên Cảnh trọng
2Âu dương NguyOu-yang Wei歐陽頠Ōuyáng WěiÂu dương Ngỗi
3Âu dương HốtOu-yang Ho歐陽紇Ōuyáng HéÂu dương Hột
4Thái NgungTs’ai Ning蔡凝Cài NíngThái/Sái Ngưng
5Đại HoàngTai Huang戴晃Dài HuǎngĐái Hoảng
6Trần KhắcShen K’o沈恪Shěn KèThẩm Khác
7Phượng TầnFang T’ai方泰Fāng TàiPhương Thái
8Trần Quân cảoShen Chün-kao沈君高Shěn JūngāoThẩm Quân cao
9LiLi
10Dương Hựu phổYang Hsiu-p’u楊休浦Yáng XiūpǔDương Hưu phố
11Lý Hữu VinhLi Yu-jung李幼榮Lǐ YòuróngLý Hữu (Ấu) Vinh

Chú giải

9- Vào thế kỷ V, Lý (俚) là tiếng để chỉ người thuộc các bộ lạc miền núi phía Nam. Sang thế kỷ VI thì nó lại được dùng để chỉ các dân tộc thiểu số (không phải Hán) đã chuyển xuống định cư ở vùng thấp, vùng đồng bằng.

11- Chữ “Hữu” tác giả lại chú bằng chữ Ấu “幼”. Có lẽ là nhầm lẫn. Lý Hữu Vinh là tên Việt.

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 3 (sách trang 151-155)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Khuất LiễuCh’ü-liao屈獠QūliáoKhuất Liệu
2Điển TriếtTien-cheh典澈Diǎnchè(hồ) Điển Triệt
3Âu dương NgụyOu-yang Wei歐陽頠Ōuyáng WěiÂu dương Ngỗi
4Âu dương HốtOu-yang Ho歐陽紇Ōuyáng HéÂu dương Hột
5Cao NươngKao Niang杲娘Gǎo NiángCảo Nương

 

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 4 (sách trang 155-158)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Tăng ThiệnT’an Ch’ien曇遷Tán QiānĐàm Thiên
2Trí NghiChih I智顗Zhì YǐTrí Ỷ
3Tuệ KhảHui K’o慧可Huì KěTuệ/Huệ Khả
4Trần Quân cảoShen Chün-kao沈君高Shěn JūngāoThẩm Quân cao
5Pháp HiểnFa Hsien法賢Fǎ XiánPháp Hiền
6Lý Hữu VinhLi Yu-jung李幼榮Lǐ YòuróngLý Hữu (Ấu) Vinh
7Lý XuânLi Ch’un李春Lǐ ChūnLý Xuân
8chùa Chung Thiêntemple of Chung-thiênchùa Chúng Thiện
9ba tông phái Thiền Phật giáoba Thiền phái lớn ở Việt Nam

 

Chú giải

1- sư Đàm Thiên (542-607).

3- Huệ Khả là học trò của Bồ đề đạt ma, là Nhị Tổ của Thiền tông Trung Quốc. Chữ 慧 có âm Hán Việt là Tuệ, nhưng tiền nhân vẫn thường nói là (Nhị Tổ) Huệ Khả.

5- theo tác giả chú chữ Hán 法賢 thì ta phải đọc là Pháp Hiền. Ông thuộc thế hệ thứ nhất của Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi.

8- theo mục “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” trong Wikipedia thì: Nay lại có Pháp Hin thượng sĩ, đắc pháp với Tì-ni-đa-lưu-chi, truyền tông phái của tam tố, là người trong làng Bồ-Tát, đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò.

9- Phật Giáo có 10 tông, như Thiên Thai tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, Thiền tông…, là những nhánh lớn. Trong nhánh lớn lại có những cành con, gọi là phái. Ở đây tác giả muốn nói đến một trong 3 phái của Thiền tông tại Việt Nam. Ta không nên lẫn lộn giữa tông và phái. Thiền thì đương nhiên thuộc về Phật giáo rồi, ta nói Thiền Phật giáo là thừa.

Việt Nam khai quốcChương 4 phần 5 (sách trang 158-165)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Thái NgungTs’ai Ning蔡凝Cài NíngThái/Sái Ngưng
2Đại HoàngTai Huang戴晃Dài HuǎngĐái Hoảng
3Dương Hữu phổYang Hsiu-p’u楊休浦Yáng XiūpǔDương Hưu phố
4Dương KhiêmYang Chien楊堅Yáng JiānDương Kiên
5Ninh Mãnh lựcNing Meng-li寗猛力Nìng MěnglìNịnh Mãnh lực
6Lý Phổ ĐịnhLi P’u-ting李普鼎Lǐ PǔdǐngLý Phổ Đỉnh
727 tiểu đoànarmy of twenty-seven batalions27 nghìn quân
8đèo Đỗ LongDo-long pass都隆DūlóngĐô Long
9Dương TấnYang Chien楊堅Yáng JiānDương Kiên
10Lưu PhươngLiu Fang劉方Liú FāngLưu Phương
11Chu Diên, Ô DiênWu-yüan烏鳶WūyuānÔ Diên

 

Chú giải

4- và 10- Dương Kiên (楊堅) hay Tùy Văn đế, người sáng lập nhà Tùy.

7- Tiếng Anh trong nguyên bản dùng “army of twenty-seven batalions”, nếu dịch là “một đạo quân 27 tiểu đoàn” như trong bản tiếng Việt thì đúng quá rồi còn gì. Thế nhưng ở Trung Quốc thời cổ đại và trung đại, chắc chắn người ta không phân chia các đơn vị quân đội và gọi là tiểu đoàn, trung đoàn v.v… như hiện nay. Với trực giác tôi chỉ có cảm thấy là dùng từ “tiểu đoàn” trong văn cảnh này có điều gì đó không ổn, vì đây là thời nhà Tùy, nhưng chưa rõ là nên dịch thế nào, tìm ở đâu. Nghĩ nát óc mà chưa ra, đã rơm rớm nước mắt, thì Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?” Tôi thưa lại sự tình thì Bụt chỉ bảo: “Con đã xem phim ‘Xích Bích’ của đạo diễn Ngô Vũ Sâm (John Woo) chưa? Câu trả lời ở trong ấy.” Nói xong thì ngài biến. Tôi vội chạy đi thuê phim về xem. Y như rằng, nhờ phim có phần phụ đề thuyết minh bằng cả hai thứ chữ: chữ Anh và chữ Hán, là thứ mà tôi có thể đánh vần được, tôi đã tìm được đáp số. Ở đoạn Tào Tháo ngồi xem quân mình đá bóng (xưa gọi là đá cầu) có một anh chàng đá rất giỏi, ghi nhiều bàn thắng. Sau trận đấu, Tào Tháo gọi anh ta đến và nói: “Từ nay ta phong cho ngươi là Thiên phu trưởng (千夫長)” (phần chữ Hán). Đây là chức võ quan chỉ huy đơn vị gồm một ngàn quân. Phần chữ Anh thì thuyết là: “Từ nay ta phong cho ngươi là Tiểu đoàn trưởng.” Thì ra ông Mẽo dùng chữ Tiểu đoàn cho Thiên phu. Cái tổ con chuồn chuồn đây rồi. Ta cũng biết là ngày xưa người ta chia quân đội thành những đơn vị 10 người, 50 người, 100 người, 1 nghìn người, 1 vạn người và tương ứng có các chức vụ Thập phu trưởng, Ngũ thập phu trưởng, Bách phu trưởng, Thiên phu trưởng, Vạn phu trưởng.

Vậy thì ở đây ta có thể dịch là “một đạo quân 27 nghìn người”.

 

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 1 (sách trang 166-177)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Tiêu ThiếtHsiao Hsien蕭銑Xiāo XiǎnTiêu Tiển
2Lâm Sĩ hoàngLin Shih-hung林士弘Lín ShìhóngLâm Sĩ hoằng
3Cao Sĩ liênKao Shih-lien高士廉Gāo ShìliánCao Sĩ liêm
4kinh đô Trường SaCh’ang An長安/ 长安Cháng’ānTràng (/Trường) An

 

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 3 (sách trang 181-187)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Huệ MinhHui Ming慧命Huì MìngHuệ Mệnh
2Văn KíYün Ch’i運期Yùn QíVận Kỳ
3Mộc Xoa ĐềMokṣadeva木叉提婆Mù-chā-tí-póMộc-xoa-đề-bà
4Huệ DiễmHui Yen慧琰Huì YǎnHuệ Diệm
5Đại Thắng ĐặngTa Sheng Teng大乘燈DàshèngdēngĐại Thặng Đăng
6Lữ Tổ thượngLu Tsu-shang盧祖尚Lú ZǔshàngLô/Lư Tổ thượng
7Văn BiWan Pei萬備Wàn BèiVạn Bị
8Lý Nghĩa phủ(ở dưới nữa: Nghĩa Phụ)Li I-fu李義府Lǐ YìfǔLý Nghĩa phủ
9Lý ThọLi Yu李友Lǐ YǒuLý Hữu
10Nghiêm Thiên tưYen Shan-ssu嚴善思Yán ShànsīNghiêm Thiện tư
11Lăng Dư KhánhLang She-ch’ing郎佘慶Láng ShéqìngLang Xà khánh
12Thẩm Toàn kỳShen Ch’üan-ch’i沈佺期Shěn QuánqíThẩm Thuyên kỳ
13Lý SaoLi Ch’ao李巢Lǐ CháoLý Sào
14Biển TrangChang (Sea)漲海Zhǎng (hǎi)Trướng hải
15Trang vương của nhà ChâuKing Cheng of Chou周成王Zhōu Chéng wángChâu Thành Vương

Chú giải

2- Pháp sư Vận Kỳ là một trong sáu vị tăng sĩ Việt Nam từng qua Ấn Ðộ du học vào cuối thế kỷ thứ bảy đầu thế kỷ thứ tám.

3- Pháp sư Giải Thoát Thiên từng qua Ấn Ðộ bằng đường thủy, tham bái Bồ Ðề Ðạo

Tràng (Ðại Giác Tự) và các thánh tích quanh đó. Tên của ông theo Phạn ngữ là Mokṣadeva (Mộc Xoa Ðề Bà). Ông mất lúc khoảng 25 tuổi.

4- Pháp sư Huệ Diệm là đệ tử của thiền sư Vô Hành người Trung Hoa. Ông họ Hứa, đã cùng du hành đi Tích Lan và ở luôn tu học tại đây.

5- Thiền sư Ðại Thừa Ðăng, (hay Đại Thặng Đăng), tên Phạn ngữ là Ma Ha Dạ Na Bát Ðịa Dĩ Ba (Mahayanapradipa).

14- Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) hay biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam). Thời Hán và thời Nam Bắc triều gọi là Trướng hải (漲海), Phí hải (沸海). Từ thời Đường trở về sau gọi là Nam hải (南海).

15- Sách Việt sử lược chép: Đến đời Thành Vương nhà Chu, Việt Thường Thị mới đem dâng con chim trĩ trắng. Đoạn này dịch là Trang vương của nhà Châu thì không đúng.

Châu Thành vương Cơ Tụng (姬誦) trị vì từ 1042 đến 1021 trước CN.

 

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 4 (sách trang 187-194)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Ưng Huệ VươngYung-hui period (650-655)永徽YǒnghuīVĩnh Huy
2người LaoLaoLǎoLão
3Lý Tự Tiến / Lý Tư HiếnLý Tự Tiên     (Li Ssu-hsien)李嗣先Lǐ SìxiānLý Tự Tiên
4Đinh KiênĐinh Kiến   (Ting Chien)丁建Dīng JiànĐinh Kiến
5Đường Cao HoàngEmperor Kao唐高宗Táng GāozōngĐường Cao tông
6Ching Tsung Hoàng ĐếChung Tsung (705-707)唐中宗Táng ZhōngzōngĐường Trung tông
7Phúc LâmCh’ü Lan曲覽Qū LǎnKhúc Lãm
8Ching Lung Hoàng đếChing Lung period (707-709)景龍JǐnglóngCảnh Long (707-710)
9Núi sông Hoan Diên驩演Huān YǎnHoan Diễn
10Thẩm Toàn KỳShen Ch’üan-ch’i沈佺期Shěn QuánqíThẩm Thuyên kỳ
11Chin Li  (Kim Lân)Chin-lin金鄰JīnlínKim Lân
12Quang Sở KhánhKuang Ch’u-k’e光楚客Guāng ChǔkèQuang Sở khách
13She-pôShe-p’o闍婆Shépó hay DūpóĐồ bà

 

Chú giải

1- Vĩnh Huy (650-655) là một trong những niên hiệu của Đường Cao tông Lý Trị.

5- Đường Cao tông (高宗 Gāozōng) Lý Trị (李治 Lǐ Zhì) 650-683.

6- và 8- Cảnh Long (707-710) là một trong những niên hiệu của Đường Trung tông (中宗 – Zhōngzōng) Lý Hiển (李顯 Lǐ Xiǎn).

13- Đồ bà chính là đảo Java của Indonesia.

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 5 (sách trang 194-208)

bản dịchnguyên văn (Wade-Giles)Hán tựpinyin Hán-Việt
1Lư Ngư / Lưu NgưLu Yü盧魚Lú YúLô/Lư Ngư
2kỷ nguyên Khai Nguyênthe current imperial reign period K’ai-yüan開元Kāiyuánniên hiệu Khai Nguyên
3Tổng Quản ĐườngT’ang administrators
4Abe No Nakamaro, Triệu HanhAbe-no Nakamaro, Chao Heng趙衡Zhào HéngTriệu Hoành
5giặc Côn Lôn và giặc Sa BàK’un-lun, She-p’o崑崙, 闍婆Kūnlún, Dūpó/ ShépóCôn Luân, Đồ bà
6“lô ch’eng”Lo-ch’eng羅城LuóchéngLa thành
7Hạ Lý QuangHo Li-kuang何履光Hé LǐguāngHà Lý quang
8Hoàng Đế Ta Ly (766-78)Ta-li period大曆DàlìĐại Lịch (niên hiệu)
9Bi AnBì An (P’i An)皮岸 (ngạn)Pí ÀnBì An (Việt)
10Lý Nguyên DoLy Nguyen Do李元度Lǐ Yuán DùLý Nguyên Độ
11“Đô Quản”Metropolitan Lord (Do Quan)都君Dū jūnĐô Quân
12“Đô Báo”Metropolitan Guardian (Do Bao)都保Dū bǎoĐô Bảo
13Đỗ Anh HànDo Anh Han杜英倫 (luân)Dù YīnglúnĐỗ Anh Hàn
14Phùng Đại VươngMetropolitan Lord PhungPhùng Đô Quân
15Bồ Phá LạcBo Pha Lac蒲破勒PúpòlèBồ Phá Lặc
16chữ “mồm”kǒuchữ “khẩu”
17Hoàng Đế Tề Tông nhà ĐườngEmperor Te Tsung (791)唐德宗Táng DézōngĐường Đức tông

 

Chú giải

2- Kai-yuan (開元 Kāiyuán) (713-741) là một trong những niên hiệu của Đường Huyền tông (玄宗 Xuán Zōng) Lý Long cơ (李隆基 Lǐ Lóng Jī).

3- Theo ý tôi, câu “Họ đuổi hết các ông Tổng Quản Đường ra khỏi bờ cõi” nên sửa lại là “Họ đuổi hết các Tổng Quản của nhà Đường ra khỏi bờ cõi” thì rõ ràng hơn.

8- Đại lịch (大曆 Dàlì) (766-779) là niên hiệu của Đường Đại tông (代宗 Dài Zōng) Lý Dự (李豫 Lǐ Yù). Trị vì: 762-779. Ngoài ra còn có các niên hiệu: Bảo ứng (寶應 Bǎoyìng) 762-763; Quảng đức (廣德 Guǎngdé) 763-764; Vĩnh thái (永泰 Yǒngtài) 765-766

9- Tác giả Taylor cho chữ Bì An bằng tiếng Việt, nhưng lại chua chữ Hán là 皮岸 – Bì Ngạn. Không rõ lý do.

13- Tác giả cho chữ Đỗ Anh Hàn bằng tiếng Việt, nhưng lại chua chữ Hán là 杜英倫 – Đỗ Anh luân. Không rõ lý do.

17- Đường Đức tông (德宗 Dé Zōng) Lý Quát (李适 Lǐ Kuò). Trị vì: 780-805. Niên hiệu: Kiến trung (建中 Jiànzhōng) 780-783; Hưng nguyên (興元 Xīngyuán) 784; Trinh nguyên (貞元 Zhēnyuán) 785-805.

 

Lời kết

Bản dịch đăng trên Da Màu đã đưa đến đây thì tạm dừng. Tôi cũng đã chuyển sang Microsoft Word toàn bộ phần Bảng từ (Glossary), gồm Nhân danh và địa danh (Hán, Việt, Phạn), đơn vị hành chính và chức danh, một số thuật ngữ và danh từ riêng. Tôi thêm vào Bính âm Hán ngữ và âm Hán Việt. Nếu bạn nào vẫn còn muốn làm “bài tập về nhà” cho những phần tiếp theo, xin liên lạc với Tòa soạn tôi sẽ gửi biếu các bạn.

© 2010 Bùi Xuân Bách

© 2013 DICHSO – Mọi thông tin bài viết, tập download, đều được DSC giữ đúng nguồn của tác giả.

Share this post

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *